Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

Công ty TNHH Hưng Biển: Năng động thời hội nhập

(TSVN) - Công ty TNHH Hưng Biển (có địa chỉ tại thôn Cừa Phú, xã Bảo Ninh, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình) chuyên kinh doanh, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản. Trải qua 15 năm xây dựng và phát triển, Công ty đã và đang chuyển mình, từng bước đi lên phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nuôi tôm trên cát



Vùng đất Bảo Ninh xưa kia được biết đến là với những động cát, trảng cát lúp xúp, những xóm chài tạm trú của những dòng họ di cư vì đói nghèo và chiến tranh. Dân sống trong vùng chủ yếu nhờ nghề đánh bắt chài lưới, vào lộng, ra khơi trên những chiếc thuyền buồm, thuyền nan nhỏ bé hay những bè tre bơi bằng chầm gỗ.



Lãnh đạo Hội Nghề cá VN thăm và làm việc tại Công ty



Đất nước bước vào thời kỳ CNH-HĐH. Bảo Ninh là một trong những địa phương được biết đến với thế mạnh đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản. Nhiều gia đình, cũng như doanh nghiệp đã bắt đầu biết làm giàu từ vùng đất cát bỏ hoang. Nhờ thế, mô hình nuôi tôm trên cát, nuôi cá nước ngọt... phát triển khá rầm rộ trong những năm gần đây, đã biến vùng cát trắng xưa kia trở thành khu nuôi trồng tiềm năng, mở ra nhiều hướng đi mới cho người dân trong vùng.



Công ty TNHH Hưng Biển ra đời trong điều kiện đó, bắt đầu công cuộc khai phá vùng cát hoang hóa Bảo Ninh từ năm 1995. Lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là thủy sản. Những năm đầu thành lập, công việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên việc chế biến, xuất khẩu của Hưng Biển không đạt hiệu quả. Trong khi đó, phong trào nuôi tôm trên cát lại phát triển khá rầm rộ tại nhiều địa phương trong cả nước và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xác định được mục tiêu phát triển, Hưng Biển đã cử cán bộ đi học và nghiên cứu kỹ thuật nuôi tôm, để tiến hành xây dựng ao nuôi hợp lý, lựa chọn nguồn giống và kỹ thuật đảm bảo tốt nhất nhằm tiến hành nuôi tôm trên cát với quy mô lớn. Ban đầu, Công ty thử nghiệm nuôi tôm sú nhưng đạt hiệu quả thấp do giá cả bấp bênh lại thêm dịch bệnh tràn lan. Do đó, năm 2003, Hưng Biển chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng.



Thu hoạch tôm tại Công ty Hưng Biển Ảnh: Huy Hùng



Thu tiền thật!



Ban đầu, Công ty đầu tư 4,1 tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất cùng trang thiết bị kỹ thuật để phục vụ nuôi tôm. Nhưng do việc xây dựng cơ bản chưa phù hợp, Công ty còn gặp khó khăn về lĩnh vực kỹ thuật nuôi… Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, bằng sự nỗ lực hết mình của tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty, Hưng Biển đã học thêm được nhiều kinh nghiệm cho công việc kinh doanh này và bắt đầu phát triển, tạo được việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương.
>> Mỗi vụ, trên các ao nuôi 15 ha có diện tích, Công ty Hưng Biển tiến hành thả tôm với mật độ từ 120 - 150 con/m², sản lượng thu về hàng năm hơn 200 tấn, năng suất trung bình từ 10 - 12 tấn/ha/năm. Năm 2008, sản lượng tôm đạt 240 tấn, và đến 2009 ước đạt 250 tấn. Doanh thu mỗi năm của công ty đạt 10 - 12 tỷ đồng. Hiện tại, Công ty tạo việc làm thường xuyên cho 32 công nhân, với mức lương trung bình 1,7 triệu/tháng.



Với 15 ha diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, trên mỗi ao nuôi được lót bạt chắc chắn, mỗi năm Công ty tiến hành nuôi 2-2,5 vụ. Thời gian nuôi phụ thuộc vào yêu cầu của thị trường. Công ty đã ký hợp đồng nhập con giống tại Phú Yên và lựa chọn nguồn thức ăn công nghiệp được cung cấp bởi Uni-President Việt Nam và Hoa Chen Việt Nam. Ngoài ra, hệ thống quạt nước cung cấp ôxy, hệ thống xử lý nước được đầu tư khá đồng bộ và hiện đại. Với mức đầu tư hiện nay lên đến 15 tỷ, hàng năm, Công ty đã thu lãi hàng tỷ đồng. Thị trường của Công ty hiện nay vẫn chủ yếu là các tỉnh trong cả nước.



Trao đổi với phóng viên TSVN, ông Đào Văn Lâng, PGĐ Công ty, kiêm Giám đốc xí nghiệp nuôi cho biết: Hiện nay, mô hình nuôi tôm thẻ trên cả nước sử dụng nhiều biện pháp xử lý nước khác nhau. Với đặc thù trên vùng đất cát, Hưng Biển tiến hành xử lý nước thải ao nuôi theo công nghệ vi sinh, qua ao xử lý hóa chất. Như vậy, sẽ tạo được nguồn nước sạch cho tôm phát triển đồng thời bảo vệ môi trường ao nuôi tốt nhất.



Đón đầu xu thế



Bảo Ninh có một bãi biển sạch và đẹp, cùng với khu du lịch nghỉ dưỡng Sun Spa Resort với quy mô hiện đại, tầm cỡ quốc tế ngày càng thu hút nhiều khách tham quan du lịch trong và ngoài nước. Điều đó, tạo nên một bức tranh phong phú - bức tranh làng nghề biển thời đổi mới.



Nằm trong vùng đất đang được đánh thức do có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, những năm gần đây, Bảo Ninh đã trở thành khu quy hoạch của thành phố Đồng Hới. Do đó, diện tích sử dụng cho nuôi trồng thủy sản của xã sẽ bị cắt giảm và thay vào đó, Công ty quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái. Ông Lâng cho biết: Trong thời gian tới, địa phương sẽ phát triển du lịch, diện tích nuôi tôm bị thu hồi. Đi trước đón đầu xu hướng ấy, Công ty sẽ chuyển đổi sang phát triển du lịch sinh thái”.



Sự chuyển mình hợp lý sẽ là bàn đạp để Hưng Biển gây dựng thương hiệu và kinh doanh ổn định. Nhận xét về Công ty, Ông Trần Đình Du – PGĐ Sở NN&PTNT Quảng Bình cho rằng: Trong những năm qua, Hưng Biển là một trong những doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thủy sản làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Công ty Uni-President Việt Nam - Nhà cung cấp dịch vụ thủy sản hàng đầu

Sau 10 năm có mặt trên thị trường Việt Nam, thương hiệu thức ăn thủy sản Uni-President Việt Nam đã được đông đảo người nuôi thủy sản tin dùng.



Lễ trao giải thưởng dành cho khách hàng, đại lý thân thiết với Công ty Uni-President Ảnh: CTV



Tháng 11/2007, Công ty TNHH Uni-President Việt Nam đã chính thức trở thành Công ty chuyên sản xuất thức ăn thủy sản đầu tiên tại Việt Nam được thông qua kiểm chứng ISO22000 của SGS. Uni-President Việt Nam được cấp giấy chứng nhận quốc tế về quản lý chất lượng ISO 9001/2000; HACCP và thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc nhằm củng cố niềm tin ở khách hàng. Vì sức khỏe của con người và vật nuôi, Công ty thận trọng chọn lựa từng thành phần nguyên liệu và truy nguyên nguồn gốc từ nhà cung ứng. Tất cả nguyên liệu đầu vào đều được kiểm tra nghiêm ngặt từ khâu dán nhãn, quy cách mua hàng, giao hàng, số lô và ngày sản xuất cũng như việc chấp hành các quy định khác. Do đó, thức ăn thủy sản của Uni-President Việt Nam đáp ứng được tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thức ăn thủy sản của Châu Âu, Mỹ và Nhật.

Không chỉ tập trung vào sản xuất thức ăn thủy sản, Công ty còn thành lập cơ sở sản xuất tôm giống chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của người nuôi. Công Ty TNHH Uni-President Việt Nam đã lựa chọn mô hình kinh doanh tổng hợp, chính sách kinh doanh kết hợp giữa trại sản xuất giống và nhà máy sản xuất thức ăn. Năm 2008, Công ty đã đầu tư 3 triệu USD để xây dựng cơ sở sản xuất giống sạch bệnh và an toàn sinh học (SPF) tại Ninh Phước, Ninh Thuận. Đến ngày 26/6/2009, Công ty TNHH giống thủy sản Uni President Việt Nam tổ chức lễ Khánh thành trung tâm giống thủy sản đầu tiên tại xã An Hải, Ninh Phước, Ninh Thuận. Công ty TNHH Giống Thủy Sản Uni-President Việt Nam là hạng mục đầu tư mới của tập đoàn Uni-President tại tỉnh Ninh Thuận. Giai đoạn đầu với tổng số vốn đầu tư là khoảng 4 triệu USD.

Mục đích chính của dự án nhằm cung cấp cho bà con nông dân nguồn tôm giống khỏe mạnh, không mang các mầm bệnh đặc trưng, tôm tăng trưởng nhanh, góp phần đưa ngành nuôi trồng Thủy Sản Việt Nam ngày càng phát triển ổn định và bền vững. Ngoài ra, còn nhằm mục đích nâng cao thị phần tiêu thụ thức ăn thủy sản của Công ty TNHH Uni-President Việt Nam, phát triển thành công trong lĩnh vực đầu tư mới, góp phần mở rộng tấm bản đồ tiêu thụ thức ăn Thủy Sản của Uni-President trên toàn thế giới

Bản lĩnh cô gái Gò Công

Đất Gò Công, nơi sinh ra những tên tuổi gắn liền lịch sử: Bình tây Đại nguyên soái Trương Định, Hoàng Thái hậu Từ Dũ, Nam Phương Hoàng hậu,… cũng là mảnh đất quê hương của “nữ tướng” Nguyễn Thị Huệ Trinh, Tổng giám đốc Công ty TNHH SX TM DV Thuận An. Phải chăng vì mang trong mình dòng máu truyền thống đó mà người phụ nữ này có sức mạnh đáng nể để “tay không” dựng nghiệp?

Bà Nguyễn Thị Huệ Trinh trong buổi lễ trao học bổng



“Thần thoại” phụ phẩm

Xuất thân từ nhà nghèo, ngay sau khi học hết lớp 12, cô gái xứ Gò Công (Tiền Giang) đã bước ngay vào con đường mưu sinh. Trong một lần đến An Giang tìm việc, Huệ Trinh thấy các nhà máy chế biến cá tra, basa vứt bỏ phần mỡ sau khi lấy phi-lê. “Tình cờ mà nên duyên”, Huệ Trinh xin về cho vào chảo thắng theo phương pháp thủ công rồi mang đến các cơ sở chế biến mỡ bôi trơn. Với giá bán chỉ bằng nửa sản phẩm mỡ động vật trên thị trường, mỡ cá của chị nhanh chóng được chấp nhận và có mặt tại TP HCM, Đồng Nai, Tây Ninh... Đây là việc mà cả vùng ĐBSCL chưa ai làm nên chị được các nhà máy xem như cứu tinh, tạo điều kiện cho chị “khai thác” lượng phụ phẩm mà nhẽ ra là phế phẩm ấy.

So với chi phí sản xuất, chị lãi hàng chục lần nhưng Huệ Trinh vẫn chưa hài lòng vì chưa tận dụng được 50% lượng đạm còn lại sau khi đã lấy đi phần mỡ nước. Qua nhiều phương án, cuối cùng chị nghĩ ra cách dùng bã mì mà các nhà máy ở Đồng Nai bán “giá rẻ như cho” để trộn với phần đạm này thành loại thức ăn gia súc bán các hộ nuôi cá với giá cực rẻ... Và một lần nữa chị lại “trúng lớn”.

Không dừng ở đó, chị tiếp tục khai thác các phế phẩm khác của cá như: đầu, vi, xương thành bột cá xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu mỗi năm lên tới 3-4 triệu USD. Từ chỗ chỉ bỏ đi, giờ đây, giá trị phụ phẩm của con cá tra đã vươn lên ngang tầm giá trị phi-lê.

Thành công nối tiếp thành công, năm 2001, chị đầu tư cơ sở chế biến mỡ cá tra Thuận An 1 tại huyện Châu Phú với công nghệ hiện đại. Nhưng một thời gian sau đó, khó khăn ập đến như để thách thức bản lĩnh người phụ nữ Gò Công. Thấy cơ sở của chị “ăn nên làm ra”, nhiều người cũng “ăn theo”, nhảy vào tranh nguồn phụ phẩm. Không bỏ cuộc, năm 2003, chị mạnh dạn vay vốn đầu tư nhà máy chế biến phi-lê công suất 60 tấn nguyên liệu/ngày, đánh dấu thời điểm Thuận An chính thức gia nhập vào ngành công nghiệp cá tra, basa bằng “chính phẩm” chứ không chỉ là phụ phẩm.

Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Văn Minh A.B: Đồng hành cùng người nuôi

Hơn 10 năm xây dựng và phát triển, thời gian đó chưa phải là dài nhưng đủ để khẳng định một thương hiệu trong lĩnh vực phục vụ hậu cần nông nghiệp thủy sản. Và với sự gắn kết với người nông dân, đặt lợi ích của họ ngang lợi ích của công ty, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Văn Minh A.B không chỉ khẳng định được vị trí của mình trên thương trường mà còn tạo được uy tín đặc biệt với người nuôi.



Chung sức với người nuôi

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn khẳng định được vị thế là một trong những nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, các sản phẩm thủy sản của nước ta thường bị cạnh tranh gay gắt cả bằng cạnh tranh lành mạnh lẫn không lành mạnh. Do vậy, để xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng trưởng bền vững thì cần phải có chiến lược đầu tư, phát triển một cách hợp lý, lâu dài, nhưng quan trọng nhất là sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân.

Bởi hiện nay, cạnh tranh không chỉ là vấn đề giá cả và dịch vụ mà còn là về chất lượng và uy tín của thương hiệu, đặc biệt là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây là một khó khăn không nhỏ đối với ngành thủy sản của Việt Nam trong điều kiện mà cả người nuôi và doanh nghiệp còn hạn chế về vốn và công nghệ. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng?

Trăn trở với câu hỏi này, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Văn Minh A.B, một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phục vụ hậu cần vật tư nông nghiệp thủy sản, ngay từ những ngày đầu đi vào hoạt động đã đặt phương châm là luôn đặt yếu tố chất lượng lên hàng đầu, nhằm cung cấp cho những người nuôi trồng thủy sản những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nuôi theo quy trình vi sinh đảm bảo không có dư lượng kháng sinh, nhằm tạo ra sản phẩm thủy sản sạch, để thuyết phục được ngay những nhà nhập khẩu khó tính, đồng thời đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi.

Với tiêu chí đồng hành cùng người nuôi tôm, Công ty Văn Minh A.B đã liên tục cập nhập thông tin, nâng cao kỹ thuật, kết hợp với các nhà khoa học và các cơ sở nghiên cứu để đưa vào kỹ thuật nuôi tiên tiến, đưa các chế phẩm sinh học vào nuôi trồng ngay từ những bước đầu của quy trình nuôi tôm sạch từ việc cải tạo và chuẩn bị ao nuôi, chọn con giống cho đến việc sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao theo quy trình vi sinh được sản xuất và kiểm tra chất lượng bằng dây chuyền hiện đại được nhập khẩu từ Thái Lan, nhằm giúp tôm tăng trưởng mạnh, không có dư lượng kháng sinh, tạp chất trong tôm, đảm bảo yếu tố vệ sinh an toàn thực phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi tôm…



Xây dựng thương hiệu bằng sản phẩm

Dịch vụ hoàn hảo, sản phẩm đảm bảo chất lượng đã giúp Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Văn Minh A.B tạo được niềm tin vững chắc và sự ủng hộ nhiệt tình của người nuôi tôm cả nước. Cũng chính những điều đó đã xây dựng nên uy tín và thương hiệu Văn Minh A.B, tạo cho Công ty có một vị thế vững chắc trong thời kỳ hội nhập.

Trong rất nhiều các sản phẩm chất lượng của Công ty phải kể đến 3 - 4 sản phẩm là: thức ăn thủy sản nuôi tôm sú Concord Super, thức ăn thủy sản nuôi tôm thẻ chân trắng G-Max, sản phẩm vi sinh nhằm xử lý và cải tạo môi trường Aquapond-100 và sản phẩm Toxin Clear làm sạch nước, không bị phát sáng nước. Đây là 4 sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao trong mô hình nuôi trồng khép kín hiện nay. Các sản phẩm của Công ty đều được sản xuất tại Thái Lan theo công nghệ hiện đại, với công thức nghiên cứu chuẩn mực trên 20 năm kinh nghiệm.

Concord Super và G-Max là loại thức ăn dạng viên với đầy đủ các thành phần Protein, chất béo thô, độ ẩm, chất xơ… hàm lượng hợp lý, đáp ứng đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng của tôm, đặc biệt là đảm bảo lượng đạm với tinh chất đạm cho tôm hấp thụ hiệu quả, đáp ứng cho nuôi tôm sú công nghiệp với mật độ 30 con trở lên và trên 80 con/m2 nuôi tôm thẻ chân trắng.

Sản phẩm vi sinh Aquapond-100: Với các thành phần Bacillus licheniformls, Bacillus megaterium, Bacillus stearothermophllus, Bacillus subtilis, các men Enzyme Protease, Lipase, Amylase… có công dụng sản sinh ra các enzyme protease, amylase và lipase để phân hủy các chất mùn bã, thức ăn dư thừa, xác tảo tàn, chất hữu cơ lơ lửng, làm đáy ao sạch sau khi thu hoạch, cùng với sản phẩm Toxin Clear làm ổn định màu nước suốt vụ nuôi… đảm bảo cho tôm khỏe mạnh, bóng sạch, không bị mòn đuôi, sưng đuôi, đóng rong…

Sản phẩm của Công ty đã mang lại cho người nuôi những sản phẩm sạch, chất lượng cao, đảm bảo được vấn đề môi trường ao nuôi và môi trường xung quanh. Thành công đó không chỉ giúp Công ty phát triển một cách bền vững, mà còn tạo được uy tín cao trên thương trường. Đó là thành quả của chiến lược đưa chữ Tâm vào kinh doanh của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Văn Minh A.B.

Vươn tới mọi tầm cao

Trong bối cảnh thị trường thức ăn thủy sản của Việt Nam quá phong phú với nhiều thương hiệu cùng tồn tại và phát triển, việc tạo được uy tín đối với những người nuôi trồng thủy sản đã khó, việc tạo dựng được vị thế trên thị trường còn khó hơn rất nhiều. Không ít doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động đã không thể trụ vững với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nằm ngoài quy luật “ma mới bị bắt nạt”, 7 năm tồn tại và phát triển, Công ty CP Việt Bỉ đã chứng minh được vai trò và vị trí của mình đối với người nông dân nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung.



“Sau” nhưng không “muộn”

Việt Nam được công nhận là một trong những nước sản xuất thủy sản lớn trên thế giới và được đánh giá là nước có tốc độ phát triển nhanh nhất, đứng thứ 5 về nuôi trồng, thứ 6 về sản lượng khai thác và thứ 12 về xuất khẩu. Tuy nhiên, nước ta lại gần như chưa bao giờ được đánh giá cao trong lĩnh vực sản xuất và chế biến thức ăn thủy sản, và trong suy nghĩ của người nông dân thì vẫn nhất “ngoại”. Do đó mà ngành công nghiệp này đã yếu lại càng khó phát triển.

Nằm ngoài quy luật đó, năm 2003, Công ty CP Việt Bỉ được thành lập, với lĩnh vực hoạt động và sản phẩm chính là: Sản xuất chế biến thức ăn thủy sản (cá, tôm), gia súc và gia cầm. Việt Bỉ là công ty đầu tiên của Việt Nam, do người Việt làm chủ tiên phong trong ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam. Với các sản phẩm cao dành cho tôm cá, gia súc, gia cầm, trong đó, đặc biệt là thức ăn dành cho tôm cá, như: Sản phẩm dành cho các da trơn: VB 800, 801,802, 803, 804. Sản phẩm dành cho cá có vẩy: Nutri 803 804 805…

Nhà máy sản xuất của Việt Bỉ được xây dựng trên diện tích 10.000m2, với 3 khu riêng biệt nhằm thiết lập khả năng truy nguyên tố đa đối với nguyên liệu và thành phẩm, dây truyền sản xuất hiện đại cho thức ăn cá, tôm, gia súc, gia cầm, từ những nước có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới như: Mỹ, Bỉ, Đài Loan… Cùng một đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu nhiệt huyết, trình độ chuyên môn cao, được đào tạo chuyên nghiệp và bài bản.

Trải qua 7 năm thành lập và phát triển, Công ty CP Việt Bỉ đã từng bước khẳng định được vị thế của mình trên thị trường và xây dựng thành công cầu nối với khách hàng bằng các chương trình hội thảo giữa doanh nghiệp và khách hàng.



“Hậu sinh khả úy”

Mặc dù ra đời muộn, thời gian phát triển chưa dài, nhưng với những gì đã đạt được, Việt Bỉ đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của người nuôi trên cả nước, sự kiêng nể của các “đối thủ” cạnh tranh và đặc biệt, công ty đã nhận được nhiều giải thưởng, bằng khen…

Giải thưởng đầu tiên và lớn nhất mà Việt Bỉ nhận được là sự tín nhiệm và ưu ái của người nuôi trồng thủy sản trên cả nước. Chính sự tín nhiệm tuyệt đối của khách hàng đó đã giúp Việt Bỉ trở thành một trong số không nhiều công ty có tốc độ tăng trưởng tốt và ổn định trong suốt nhiều năm liền. Và 7 năm từ ngày thành lập, công ty đã liên tục nhận được các chứng nhận ISO 9001-2000, nay là 9001-2008. Bên cạnh đó, sản phẩm của Việt Bỉ luôn được khách hàng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, và một giải thưởng quan trọng khác là Danh hiệu chất lượng vàng thủy sản Việt Nam 2010. Đó là thành quả của những nỗ lực không ngừng nghỉ vì sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam nói riêng và nền nông nghiệp Việt Nam nói chung.

Bên cạnh những thành công về hoạt động kinh tế, Việt Bỉ còn được ghi nhận và đánh giá cao với những đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng khi nhiệt tình tham gia các hoạt động từ thiện như: tặng quà cho người tàn tật, ủng hộ đồng bào lũ lụt… Bên cạnh đó, công ty cũng trích 1 quỹ riêng dành cho CBCNV khó khăn trong công ty.

Không tự mãn với kết quả hiện có, Công ty CP Việt Bỉ luôn luôn nghiên cứu cải tiến chất lượng sản phẩm, nhằm đáp ứng những nhu cầu khắc khe của thị trường, của khách hàng, đưa công nghệ tiên tiến nhất phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty, nhằm mang đến cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất.

Với phương châm hoạt động “Ở đâu có người cần thì ở đó có Việt Bỉ” và một mong muốn lớn lao giúp người nông dân đạt lợi nhuận cao nhất trong nuôi trồng đã mang lại cho Việt Bỉ có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường ngày hôm nay và tương lai.

Thuỷ, hải sản chế biến: Đã đa dạng hơn

Hơn 90% trong số trên 200 mặt hàng thuỷ sản đông lạnh đang bày bán trong các siêu thị, cửa hàng hiện nay là sản phẩm của các công ty Việt Nam, theo ước tính của các siêu thị, từ lúc những mặt hàng đông lạnh đầu tiên thâm nhập vào siêu thị, đến nay tròn mười năm.

Từ cá tra đến cá linh
Năm 2002, sau vụ ngư dân Mỹ kiện cá da trơn Việt Nam bán phá giá, người tiêu dùng chú ý đến việc cá tra nguyên con, philê bắt đầu được bày bán khắp các chợ. Tháng 8.2002, xuất hiện hơn 30 món chế biến từ cá tra của Agifish cho thị trường nội địa. Sản phẩm từ cá của Agifish có lạp xưởng, chà bông, bánh phồng, khô ăn liền, cá viên, cá kho tộ, chạo cá, chả giò… và cả những món ăn chơi, chế biến cho tiệc như bao tử cá, cá philê… Agifish đầu tư riêng nhà máy chế biến cá sơ chế gồm: cá đông lạnh, cá nguyên con, cá cắt khoanh, cá philê... và hàng giá trị gia tăng như cá kho tộ, cá viên, chả cá... tiêu thụ trong nước.

Các công ty khác cũng bắt đầu đưa cá tra vào thị trường nội địa như công ty HMI đưa cá tra vào các nhà hàng khách sạn. Công ty Việt Á tung ra khoảng 30 mặt hàng các loại về cá tra. Công ty An Vĩnh chọn chuyên một mặt hàng là philê cá tra để phân phối vào siêu thị. Đến cuối năm 2005, thị trường có khoảng 50 sản phẩm từ cá tra của mười doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu lớn như Agifish, Fiex, APT... Ngay cả siêu thị cũng có xây thương hiệu riêng để bán cá tra chế biến.

Trước Agifish, một vài công ty cũng đưa cá tra vào siêu thị nhưng không được chú ý, không làm doanh thu bán hàng siêu thị tăng mạnh.

Khoảng hai năm sau, sản phẩm cá linh chế biến được công ty Antesco chào hàng ở các siêu thị trong nước sau khi xuất khẩu cá linh đóng hộp sang Đông Âu và Mỹ.

Một số doanh nghiệp ước tính, doanh số tiêu thụ nội địa của họ đã lên tới 50 – 60 tỉ đồng/năm.

Từ sơ chế tới món ăn sẵn
Hiện nay, ngoài sản phẩm chế biến từ hai loại cá trên, người dùng có thể chọn cá rô bí, rô mè, bống trứng, bống rạng, lòng tong. Con cá, con tôm không chỉ gói gọn trong hàng đông lạnh mà còn xuất hiện trong các món lẩu hay cá kho tộ. Theo công ty SGfishco với món lẩu có gói nước dùng pha chế sẵn tiện lợi giúp cho họ cải thiện vị thế nhà cung cấp cho siêu thị. Các công ty An Vĩnh, Phi Long, Phú Thạnh khai thác nhu cầu thưởng thức cá đồng nghịch mùa của dân Sài Gòn với món rô bí, rô mè, bống trứng, bống rạng, lòng tong. Các loại này ngoài loại sơ chế, còn có loại tẩm gia vị… So với mua cá đồng tươi sống, một khay cá rô bí đông lạnh mắc gấp 3 – 4 lần, nhưng hai yếu tố tạo nên lợi thế cho sản phẩm chính là “có ngay” (dù trái mùa) và “tiện dụng” (đã sơ chế – làm sạch) đã giúp sản phẩm bán quanh năm ở các tủ đông lạnh trong siêu thị.

Dạo một vòng siêu thị, có thể thấy nhóm hàng chế biến sẵn cơ bản có thể đủ cho một bữa ăn gia đình, từ nồi canh chua cho tới cá bống kho tiêu và cả đồ xào. Khoảng 50 nhà cung cấp giành chỗ trên khay hàng đông lạnh ở các món cá kho, mắm chưng, cá xốt cà, chả cá… với giá chênh nhau từ 700 – 4.000 đ/100g của cùng một món, với hình thức đóng gói bằng hộp thiếc có khoen để giật nắp mở tiện dụng, thố đựng bằng nồi đất, hay bao bì màng nhôm dễ hâm nóng, nướng chín… Thậm chí với cùng một loại nguyên liệu, nhà cung cấp tìm cách thay đổi khẩu vị chế biến để thu hút khách: chẳng hạn với món cá trứng có tẩm wasabi, gia vị cay, tẩm cốm, tẩm bột chiên xù...

Theo ghi nhận từ các nhà kinh doanh siêu thị, trong giai đoạn 2000 – 2009, ngành thực phẩm chế biến phát triển mạnh nhất là những năm 2004 – 2008 khi hệ thống siêu thị liên tục mở rộng điểm bán. Theo các nhà sản xuất, sản phẩm chế biến sẵn hay sơ chế chủ yếu bán qua hệ thống siêu thị ở các thành phố lớn, với khoảng 80% doanh thu. Ngoài sản phẩm trong nước, các công ty Biển Đông, An Vĩnh, Trung Sơn… đưa vào bán trong siêu thị cá hồi Alaska, các ngừ đại dương, cá nhập từ Nhật như sama (hiệu Maruo), cá trứng shishamo (hiệu Yamasan) và cá saba (Maruo)... liên tiếp làm mới bằng cách chế biến như tẩm cốm, xiên que để nướng, cắt lát ăn sống, tẩm mù tạt cay… Theo Maximark, có 20% khách của họ mua thực phẩm chế biến hàng tuần, khoảng 5% khách có thẻ mua thực phẩm chế biến ở mức 100 – 150 ngàn

Festival thủy sản Việt Nam lần thứ nhất năm 2010 tại TP. Cần Thơ

Festival Thủy sản năm 2010 là một sự kiện lớn về kinh tế, văn hóa - xã hội nhằm tôn vinh những giá trị về ngành thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung; tạo cơ hội hợp tác - giao thương giữa các doanh nghiệp thủy sản và các đối tác trong và ngoài nước; đồng thời tiến tới xây dựng Thương hiệu thủy sản Việt Nam

I. MỤC ĐÍCH & Ý NGHĨA:
* Festival Thủy sản năm 2010 là một sự kiện lớn về kinh tế, văn hóa - xã hội nhằm tôn vinh những giá trị về ngành thủy sản của Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung; tạo cơ hội hợp tác - giao thương giữa các doanh nghiệp thủy sản và các đối tác trong và ngoài nước; đồng thời tiến tới xây dựng Thương hiệu thủy sản Việt Nam
* Giới thiệu tiềm năng và cơ hội đầu tư vào lĩnh vực văn hóa sông nước, du lịch miệt vườn, quảng bá thế mạnh du lịch của thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
* Festival Thủy sản năm 2010 là thông điệp gửi đến các tỉnh thành trong nước và bạn bè trên thế giới về một thành phố Cần Thơ xinh đẹp, năng động với văn hóa sông nước miệt vườn, văn hóa nghệ thuật, sự phong phú về du lịch; là điểm đến hấp dẫn của du khách.
* Festival Thủy sản năm 2010 là ngày hội của nhân dân thành phố Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long và du khách với sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước dưới sự chỉ đạo và thực hiện của Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể thành phố Cần Thơ và các doanh nghiệp theo hướng hiện thực hóa và xã hội hóa với tinh thần phong phú, ấn tượng, hiệu quả và tiết kiệm.
* Tiến tới xây dựng Festival Thủy sản Việt Nam trở thành sự kiện thường niên của quốc gia được tổ chức tại thành phố Cần Thơ.

II. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM & ĐỐI TƯỢNG THAM DỰ:
1. Thời gian: Từ ngày 22 đến 25 tháng 04 năm 2010
2. Địa điểm: Tp. Cần Thơ
Các hoạt động chính của Festival được tổ chức tại vòng xoay công viên nước, Trung tâm triển lãm quốc tế Cần Thơ, bờ kè sông Hậu, nhà hàng Hoa Sứ,…
3. Thành phần khách mời: Dự kiến khách mời chính thức là 300 đại biểu bao gồm:
3.1. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính Phủ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Bộ Công Thương, Bộ ngoại giao, Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, Bộ Kế Họach & Đầu Tư, Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch
3.2. Tổng lãnh sự quán, tham tán thương mại các nuớc Bắc Mỹ, Đông Âu, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan,…
3.3. Các tổ chức hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực thủy – hải sản trong và ngoài nuớc
4. Đối tượng:
* Các tập đòan, doanh nghiệp, tổ chức, hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực thủy – hải sản và các doanh nghiệp phụ trợ ngành thủy sản.
* Các tổng lãnh sự quán các nước, tập đòan, doanh nghiệp quốc tế hoạt động trong ngành thủy – hải sản…
* Các hộ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến kinh doanh thủy – hải sản, người dân Tp. Cần Thơ và ĐBSCL…
* Các tỉnh thành trong cả nước.
III. NỘI DUNG: Bao gồm các nội dung tổng thể sau:
A. HỘI THẢO:
1. Nội dung: gồm các chuyên đề:
* Thực trạng nuôi trồng Thủy sản Việt Nam.
* Quy hoạch và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững ở Việt Nam.
* Định hướng phát triển đánh bắt thủy hải sản xa bờ.
* Phương hướng xuất khẩu ngành thủy sản tới các thị trường tiềm năng.
* Xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam. Các dịch vụ & giải pháp hậu cần phục vụ cho ngành thủy sản.
2. Đối tượng:
* Lãnh đạo các Bộ, ngành có liên quan đến thủy sản., các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế thủy sản.
* Doanh nghiệp thủy sản với nhiều loại hình và quy mô khác nhau, các đối tác chiến lược của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam trong và ngoài nước
* Các hộ cá thể, Hợp tác xã nuôi trồng Thủy sản
* Các viện nghiên cứu, các trường đại học, các Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Sở Thủy sản…
* Các thương vụ, văn phòng xúc tiến nước ngoài, các Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài.
B. XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI:
1. Hội chợ Thủy sản Việt Nam năm 2010
1.1 Thời gian, địa điểm:
- Thời gian: 04 ngày, từ ngày 22 đến 25 tháng 04 năm 2010.
- Địa điểm: Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc tế Cần Thơ.
1.2 Đối tượng:
* Các tập đòan, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ cá thể …trong và ngoài nước liên quan đến nuôi trồng, khai thác, đánh bắt, chế biến, bảo quản, vận chuyển…thủy sản của Việt Nam và quốc tế.
* Các gian hàng giới thiệu thành tựu thủy sản Việt Nam của Hội nghề cá, thành tựu thủy sản của các tỉnh thành trong cả nước.
* Các gian hàng giới thiệu sản phẩm, dịch vụ… trong ngành thủy sản của nước ngòai.
2. Xét chọn giải thưởng: “Doanh nghiệp tiêu biểu ngành Thủy sản Việt Nam năm 2009”
2.1 Đối tượng:
Tôn vinh các doanh nghiệp thủy sản xuất sắc vượt qua khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, chủ động tìm kiếm, khai thác thị trường xuất khẩu tiềm năng; duy trì, đẩy mạnh công việc xúc tiến thương mại, củng cố nội lực kinh tế, hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp thuế, mạnh dạn áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc chế biến theo tiêu chuẩn quốc, không gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nước thải,…
2.2 Hội đồng xét thưởng:
Hộiđồng khoa học gồm các chuyên gia đến từ các bộ ngành, các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế thủy sản, các hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Hội nghề cá Việt Nam (VINAFISH),…
3. Giao lưu nghệ thuật tại sân khấu hội chợ:
3.1. Chương trình hóa trang và giao lưu văn nghệ: (Biểu diễn các tiết mục hóa trang của các doanh nghiệp)
Phương thức thực hiện: Tổ chức cuộc thi hóa trang trong phạm vi ngành thủy sản cho đối tượng Công nhân, Nông dân, Ngư dân cùng tham gia. Hội thi cũng có thể được mở rộng ra cho đông đảo nhân dân cùng hưởng ứng. Hoạt động biểu diễn có thể mời gọi các nhóm họa sĩ đương đại tham dự với những bộ sưu tập hóa trang mang thông điệp về chủ đề bảo vệ môi trường một cách chuẩn mực.
3.2. Chương trình giao lưu văn nghệ: (Các giọng ca tuyển chọn từ các doanh nghiệp ngành thủy sản)
Phương thức thực hiện: BTC chọn lọc một số tiết mục các doanh nghiệp và địa phương thể hiện sự đa dạng về văn hóa dân tộc như Kinh, Khơme, Hoa… và các ca khúc gắn liền với lịch sử của những dòng sông qua nhiều thời kỳ.
C. BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT (SÂN KHẤU TRUNG TÂM):
1. Lễ khai mạc Festival thủy sản Việt Nam năm 2010: (THTT trên VTV & TH Cần Thơ)
Chủ đề: “Thủy sản – Âm hưởng cội nguồn và hội nhập”
2. Chương trình Liên hoan Nghệ thuật: “Cửu Long - Lời tự tình sông nước” (THTT TH Cần Thơ)
3. Chương trình đêm hội bế mạc: “Việt Nam - Điểm sáng hội tụ và hành trình vươn ra thế giới” (THTT trên VTV & TH Cần Thơ)
D. CÁC HỌAT ĐỘNG HỘ TRỢ
1. Chương trình diễu hành xe hoa.
2. Chương trình Liên hoan văn hóa ẩm thực Đồng Bằng Sông Cửu Long và Trao kỷ lục guiness về ẩm thực lieân quan ñeán thuûy saûn.
3. Chương trình trực quan: Thực hiện con đường trực quan gồm các mô hình trực quan sinh động về đề tài hải sản, môi trường, thiên nhiên: sông, biển, thác, hồ… thể hiện mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên.
4. Gỉai đua thuyền rồng ngành Thủy sản mở rộng năm 2010.
5. Các hoạt động khác:Các hoạt động vui chơi giải trí, các trò chơi dân gian, sinh họat đường phố,…

Xuất khẩu thủy sản năm 2010: Chinh phục thị trường bằng chất lượng

Các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam như: Nga, Hoa Kỳ, EU, Nhật… liên tục đưa ra những quy định mới về chất lượng thủy sản nhập khẩu. Để không đánh mất thị trường, vấn đề cần được ưu tiên hàng đầu, chính là yếu tố chất lượng. Thời gian tới, Bộ NN&PTNT kiên quyết dừng việc cấp chứng thư cho những doanh nghiệp cố tình không tuân thủ các quy định về ATVSTP; đồng thời áp dụng các biện pháp cứng rắn, kể cả đình chỉ xuất khẩu, đối với các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng…

Nhận diện những khó khăn

Năm 2009, lần đầu tiên xuất khẩu thủy sản đạt con số tăng trưởng âm. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cả năm 2009 đạt 4,3 tỷ USD. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản (Vasep) năm 2009, trừ sản phẩm tôm có kim ngạch xuất khẩu tăng, còn hầu hết các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu khác đều giảm cả về sản lượng và giá trị. Nguyên nhân cơ bản được xác định là do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. Tuy nhiên, một yếu tố tác động không nhỏ tới sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam chính là các rào cản thương mại, kỹ thuật mà các nước nhập khẩu đưa ra. Cụ thể, lấy lý do “thủy sản Việt Nam không đảm bảo chất lượng VSATTP” Nga đã dừng nhập khẩu thủy sản Việt Nam trong khoảng thời gian dài (từ cuối năm 2008 đến tháng 5/2009). Một số thị trường khác như: Ai Cập, Italia… cũng tung ra những tin đồn thất thiệt về chất lượng cá tra Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của loài cá xuất khẩu chủ lực, khiến kim ngạch xuất khẩu loại cá này giảm sút rõ ràng…

Theo nhận định của các chuyên gia trong ngành, năm 2010, khó khăn cho xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam chủ yếu vẫn là xu hướng bảo hộ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới khắt khe hơn về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Cụ thể, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đang trong quá trình triển khai dự luật nông nghiệp 2008 (Farmbill), trong đó có điều khoản nhằm hạn chế việc nhập khẩu cá tra của Việt Nam, dựa trên việc mở rộng định nghĩa catfish và đưa cá tra của Việt Nam vào danh sách này để chuyển đối tượng này từ USFDA sang USDA quản lý. Đặc biệt, từ 1/1/2010, EU chính thức áp dụng quy định IUU về vấn đề truy suất nguồn gốc thủy sản đánh bắt. Theo đó, EU yêu cầu “chứng nhận thủy sản khai thác” đối với tất cả các nhà xuất khẩu thủy sản nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và loại bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp và không theo quy định.

Đối với thị trường Úc, mới đây Cục Thanh tra và kiểm dịch Úc (AQIS) cũng vừa ra quyết định tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt dư lượng malachite green trong thủy sản nuôi nhập khẩu. Theo đó, tất cả thủy sản nuôi sẽ được lấy mẫu, kiểm tra malachite green và leucomalachite green với tỉ lệ kiểm tra là 5%...

Ngoài những khó khăn mang tính khách quan, bản thân các doanh nghiệp cũng đang gặp phải một khó khăn lớn ngay trong nội tại ngành sản xuất. Thực tế, vấn đề thiếu nguyên liệu lâu nay vẫn là bài toán khó đối với hoạt động của các doanh nghiệp. Chính vì không chủ động được nguồn nguyên liệu nên dẫn tới tình trạng “tranh mua tranh bán”, bất chấp chất lượng, miễn đủ nguyên liệu sản xuất… Chính đây là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng một số lô hàng xuất khẩu không đảm bảo chất lượng…

Thủy sản khô bứt phá

Năm 2009, kết thúc một năm nhiều khó khăn của ngành thủy sản, xuất khẩu thủy sản khô của Việt Nam vẫn đạt được những kết quả rất khả quan, tăng mạnh cả về kim ngạch lẫn sản lượng. Mặc dù chỉ chiếm 3,77% tỷ trọng xuất khẩu năm 2009, nhưng những tín hiệu khả quan của những tháng đầu năm 2010 sẽ là tiền đề để xuất khẩu thủy sản khô bứt phá.

2009 – Thành công ngoài dự kiến

Nửa đầu năm 2009, xuất khẩu thủy sản khô của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và sụt giảm ở hầu hết các thị trường. Tuy nhiên, từ giữa năm 2009, xuất khẩu thủy sản khô của Việt Nam lại có bước tăng trưởng mạnh, đánh dấu một năm thành công của thủy sản khô Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản khô năm 2009 đạt gần 43.000 tấn, với giá trị trên 160 triệu USD, tăng 31,2% về lượng và 9,9% về giá trị so với năm 2008. Chỉ tính riêng nửa đầu tháng 12/2009, xuất khẩu thủy sản khô của cả nước đạt trên 1.800 tấn, với trị giá gần 6 triệu USD, tăng 99,6% về lượng và 24,5% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Với giá trung bình đạt 3,49 USD/kg.

Mặc dù chỉ chiếm 3,77% tỷ trọng xuất khẩu, nhưng đây vẫn là nhưng con số ấn tượng, đánh dấu một năm thành công của xuất khẩu thủy sản khô, trong điều kiện nền kinh tế thế giới suy thoái và nguồn nguyên liệu trong nước bị khủng hoảng.

Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ đó, thủy sản khô của Việt Nam còn rất thành công trong chiếm lĩnh thị trường, với hơn 50 nước trên thế giới. Hầu hết các thị trường đều có sự tăng trưởng rất khả quan, ở mức từ 2-3 con số. Trong đó, các thị trường như Hàn Quốc, Asean, Trung Quốc, Nhật Bản… chiếm trên 73,1% thị phần xuất khẩu của cả nước. Giá trị nhập khẩu của Mỹ tăng 81,8% so với năm 2008, Nhật Bản tăng 56,6%; Đài Loan tăng 36,5% và Asean tăng 2,9%… Điều đáng nói là mặc dù không được đánh giá là thị trường nhập khẩu chính của thủy sản khô Việt Nam, nhưng năm 2009 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu sang Austraylia tăng đột biến, ở mức 129,4%.

Điều đáng nói là trong hơn 50 thị trường nhập khẩu của thủy sản khô, thị trường Hàn Quốc đang trở thành thị trường quan trọng số 1, tăng mạnh cả về sản lượng và kim ngạch so với năm 2008. Năm 2009, sản lượng xuất khẩu sang nước này đạt xấp xỉ 12.000 tấn (tăng 147,3%), giá trị kim ngạch đạt gần 60 triệu USD (tăng 70,8%). Và từ tháng 6/2009, Hàn Quốc đã vượt qua Asean trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản khô lớn nhất của Việt Nam. Và đây được coi là thị trường nhập khẩu ổn định và đầy triển vọng thủy sản khô trong năm 2010 này.

Việt Nam lạc quan trong kiện chống bán phá giá

Đầu tháng 3 năm 2010, Việt Nam đã gửi yêu cầu tham vấn tới Mỹ thảo luận việc Mỹ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm đông lạnh nhập khẩu. Ngày 23/3, phiên tham vấn chính thức giữa Việt Nam và Mỹ sẽ được tổ chức tại Geneva (Thụy Sĩ). Nếu tham vấn không thành công, Việt Nam sẽ kiện Mỹ lên WTO. Trước khi diễn ra buổi tham vấn này, đa số ý kiến đã nhận định Việt Nam có nhiều lợi thế.

Tại buổi tọa đàm về các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp ngày 10/3/2010, tiến sĩ Peter John Koenig, Luật sư cao cấp của hãng Luật Squire Sanders (Mỹ) cho rằng: Việt Nam có đầy đủ quyền để đưa việc Mỹ áp thuế suất không hợp lý đối với tôm đông lạnh của Việt Nam nhờ WTO phân xử. Theo ông Peter John Koenig, Việt Nam cần phải xem xét, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia thắng kiện để làm bài học cho mình. "Khi các nước khác như Canada, EU, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Ecuador có thể thắng kiện thì tôi cho rằng Việt Nam cũng không hề có rủi ro nào trong vụ kiện này, nghĩa là khả năng thắng của Việt Nam là có", ông Koenig nhận định.

Ông Koening cũng nói thêm: Có 3 lý do để Việt Nam có thể hy vọng trong vụ kiện này. Thứ nhất, Mỹ không có mặt hàng tôm giống với tôm đông lạnh của Việt Nam. Thứ hai, đã có nhiều nước thắng kiện Mỹ về biện pháp “zeroing” (quy về bằng 0) trong tính biên độ phá giá vốn đang được áp dụng với mặt hàng tôm đông lạnh của Việt Nam. Thứ ba, hiện có lục đục trong nội bộ các nhà sản xuất tôm của Mỹ, nên họ không quan tâm nhiều đến việc áp CBPG lên tôm của Việt Nam.

Bà Nguyễn Chi Mai, trưởng ban Phòng vệ Thương mại Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Công Thương, cho biết: Việt Nam có cơ sở pháp lý, có căn cứ thực tiễn để kiện Mỹ. Bằng chứng là các nước như Canada, EU, Nhật Bản... đã thắng Mỹ trong vụ kiện áp dụng thuế suất không hợp lý đối với các mặt hàng xuất khẩu của các nước này. "Việt Nam đã tính toán rất kỹ trước khi làm. Trong trường hợp kết quả không như mong muốn, chúng ta sẽ thu được những kinh nghiệm quý báu", bà Mai nói.

Tiến sĩ Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn về Phòng vệ thương mại của VCCI cũng đưa ra quan điểm của mình: Tôi thấy lạc quan về vụ kiện vì chính phủ đã chuẩn bị khá tốt. Nếu thắng, từ nay trở về sau tôm đông lạnh của Việt Nam sẽ không bao giờ bị áp biện pháp “zeroing” nữa, sẽ có lợi cho ta.

Lời giải cho xuất khẩu bền vững

Năm 2010, trong khi các nhà nhập khẩu trên thế giới tăng cường mua vào thì các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam lại tỏ ra “đuối sức” do phải đối mặt với “cơn khát” nguyên liệu đang rất dữ dội, và theo nhận định của nhiều chuyên gia thủy sản thì nó còn kéo dài đến hết năm 2010, nhất là đối với những loại thủy sản xuất khẩu chủ lực như tôm, cá tra… Vậy, nguyên nhân do đâu?

Từ lợi ích không cân đối

Cái kiểu liên kết đặt lợi ích của mình lên trên hết là thực tế của mối liên kết giữa nhà máy chế biến và người nuôi thủy sản nhiều năm qua. Khi nhu cầu nguyên liệu tăng cao, nhiều doanh nghiệp tự tăng giá để thu mua cá nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất của mình, chấp nhận mọi “yêu sách” của nông dân. Nhưng ngược lại, nếu không cấp bách về nguyên liệu, đặc biệt khi “cung vượt quá cầu” thì doanh nghiệp lại bắt đầu “ngoảnh mặt làm ngơ”, mặc sức làm giá, và dồn hết gánh nặng lên vai người nuôi. Người nuôi bơ vơ tìm mối tiêu thụ, bị thương lái o ép giá, nhiều người phải “ngâm” ao, dẫn đến thua lỗ nặng vì tiền thức ăn cho cá và tiền lãi của ngân hàng.

Lúc này, để tránh phá sản, người nuôi chấp nhận phụ thuộc, thậm chí chấp nhận làm theo mọi điều kiện của doanh nghiệp, nhưng lỗ vẫn hoàn lỗ. Không còn vốn để tái đầu tư, nhiều người đã phải “treo ao”, trở thành “con nợ” của ngân hàng, trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn đang “sống khỏe”, thậm chí rất khỏe từ cuộc vụ lợi này.

“Trạng chết chúa cũng băng hà”

Năm 2010 này, tình hình xuất khẩu thủy sản trên thế giới đang rất sáng sủa, sản lượng nhập khẩu ở hầu hết các thị trường đều tăng mạnh, trung bình là 30%. Nhưng, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam lại không thể tung sức, do hiện nay, nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đang thiếu trầm trọng, hầu hết các doanh nghiệp đều phải hoạt động cầm chừng, với công suất tối đa cũng chỉ là 70%.

Sự khan hiếm nguyên liệu này được giải thích một phần cũng là do giá nguyên liệu thủy sản tăng đã khiến các hộ nuôi đẩy mạnh thu hoạch. Thêm vào đó, tại nhiều nơi, do thua lỗ kéo dài, người dân có xu hướng chuyển đổi sang nuôi một số loại thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn khiến nguồn nguyên liệu những thủy sản chính như tôm, cá tra… giảm sút mạnh.

Tình trạng này xảy ra ở hầu khắp các tỉnh. Cà Mau là một điển hình. Theo lãnh đạo tỉnh này thì do thiếu nguyên liệu tôm nên hiện các nhà máy chế biến thủy sản tại địa phương chỉ hoạt động được khoảng 50% công suất, trong đó 14/26 doanh nghiệp chế biến đã phải giảm sản xuất, thậm chí cho công nhân tạm nghỉ.

Còn tại An Giang, hiện nay trên toàn tỉnh, có đến 30-40%, thậm chí là 60% ao hầm nuôi cá bỏ trống vì người nuôi liên tục thua lỗ, không còn khả năng tái đầu tư. Hiện toàn tỉnh có 23 nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu, nhưng hầu hết chỉ hoạt động ở mức 50-60% công suất.

Và tình trạng chung hiện nay là các doanh nghiệp đều đang “vắt chân lên cổ” tìm nguyên liệu. Sự thiếu hụt này đã dẫn đến tình trạng giá nguyên liệu trong nước tăng mạnh, khiến nhiều doanh nghiệp không theo kịp. Nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất đang là giải pháp phổ biến trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, việc nhập khẩu này cũng có nhiều hạn chế do phải phụ thuộc vào nước ngoài, chi phí sản xuất tăng, trong khi giá bán không được cải thiện là mấy, đã trở thành bài toán khó giải của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay khi cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt.

Liên kết - Lợi cả đôi đường

Trong cuộc hội thảo do Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) tổ chức tại Cần Thơ (4/2009) đã khẳng định việc tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp ngành thủy sản và nông dân như một giải pháp cho phát triển thủy sản bền vững. Bởi, trong điều kiện hiện nay, liên kết kinh tế đang là một giải pháp cho sự phát triển, trong đó, điều quan trọng là phải phân phối lợi ích một cách hài hòa giữa doanh nghiệp và nông dân.

Liên kết người nuôi và doanh nghiệp tạo một sự đồng nhất và khép kín nhưng thực tế nó vẫn chưa gắn kết, một phần do đặc điểm nghề nuôi và chế biến thủy sản chịu sự chi phối và tác động của thị trường. Bản chất của mối liên kết ấy, cũng chưa thật sự gắn bó, chưa đảm bảo quyền lợi, nhất là về phía người nuôi. Đây là một trong những nguyên nhân khiến ngành này phát triển thiếu bền vững, sản lượng khi thừa, khi thiếu, giá cả bấp bênh. Điều đó không chỉ làm nông dân thua lỗ mà doanh nghiệp cũng lao đao do thiếu nguyên liệu cho chế biến. Mặt khác, giá cả nguyên liệu trên thị trường hầu như hoàn thoàn phụ thuộc vào giá mua của các doanh nghiệp lớn, qua nhiều khâu, nên khi các doanh nghiệp này thu mua theo hướng giảm dần, đã ép xuống các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tư thương, đầu nậu rồi đè giá người dân.

Do vậy, việc liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân là vấn đề then chốt, đảm bảo lợi ích của cả hai nhà. Nhà máy bao tiêu sản phẩm, mua cá với giá đảm bảo nông dân có lãi, nông dân sẽ an tâm sản xuất, ngược lại, nhà máy sẽ được đảm bảo về nguồn nguyên liệu sản xuất. Nếu điều này được hoàn thiện thì đây sẽ là lời giải hữu hiệu đảm bảo cho xuất khẩu bền vững.

Người hai lần ngồi trên “ngôi báu”


Rời bỏ ngai vàng, tước vị “vua tôm”, với hằng chục tỉ trong tay, ông quyết định “kết duyên” với con tu hài, một loài nhuyễn thể đặc sản lúc bấy giờ. Ông bảo, ông đến với loài sinh vật còn lạ lẫm khi ấy là do cái duyên, cái số. Người ta vẫn bảo: “cái duyên cái số nó vồ lấy nhau”, cấm có sai bao giờ!

(tiếp theo và hết)

Ý tưởng từ bàn nhậu

Ông là môn đồ của túc cầu giáo. Năm đó - EURO 2000, trận chung kết giữ Pháp và Ý. Cổ vũ cho đội Ý, để thêm phần khí thế, ông đã đánh cuộc với một số người bạn ở Hải Phòng rằng, nếu đội áo thiên thanh thua, ông sẽ sang tận Hải Phòng để đãi các bạn một chầu tuý luý và ngược lại. Chung cuộc, ông đã thua khi Pháp thắng ở hiệp phụ. Giữ đúng lời hứa, ông mang hai lá vàng ròng sang Hải Phòng. Tới nơi, những người bạn của ông đã vào nhà hàng sang trọng, chọn đặc sản khi ấy là các món chế biến từ nhuyễn thể tu hài và… chén thật lực. Bữa nhậu kết thúc, hai miếng vàng của ông có giá hơn chục triệu đồng đi tong. Trên đường về, ông cứ ấm ức mãi. Ấm ức vì thua cuộc, ấm ức bởi không biết con tu hài nó là giống gì mà giá như ở trên trời thế vậy!

Sau bữa đó, ông bỗng dưng chú ý đến loài đặc sản này. Càng tìm hiểu càng thấy say mê để sau cùng nảy ra ý định, phải nuôi nó cho kỳ được.

Những trang sách như có phép nhiệm màu đã “mách bảo” ông rằng, nếu quyết tâm đến với loài nhuyễn thể lạ lùng này, ông sẽ lại một lần nữa… lên ngôi vua. Hừng hực quyết tâm, lang thang khắp các bãi biển nhưng ông vẫn chưa tìm được địa điểm nào để cụ thể hoá khát vọng… làm “vua” của mình. Đúng khi ấy, như có kỳ duyên, Hợp phần Su-ma, một tổ chức phi chính phủ của Phần Lan, đã có đề án giúp đỡ Quảng Ninh quy tụ vùng nuôi thuỷ hải sản, đặc biệt là tu hài, một đặc sản đang rất thịnh hành trên “bàn nhậu” của người nước ngoài. Bắt được thông tin ấy, ông mừng như vớ được vàng. Tìm tới Hợp phần Su-ma, họ giới thiệu cho ông rất nhiều địa chỉ có thể nuôi được sinh vật lạ đã ám ảnh ông suốt mấy năm trời ấy.

Ra đảo hoang lập nghiệp

Sau một thời gian khảo sát, được sự giúp đỡ của huyện Vân Đồn, năm 2005, ông quyết định “đóng đô” tại đảo Bánh Sữa, hòn đảo nằm chắn giữa biển và vịnh Hạ Long. Theo những kiến thức mà ông học được thì môi trường quanh hòn đảo này là lý tưởng nhất cho việc nuôi tu hài. Khi ấy, đảo Bánh Sữa chỉ um tùm cây dại với những vách đá sừng sững, cheo leo. “Dời đô” từ Yên Hưng ra đây, ông phải làm lại từ đầu. Bạt đá, tôn đất, ông và cánh thợ hì hục suốt mấy tháng trời. Xong xuôi, đến công đoạn xây dựng. Bởi ông xác định biến nơi đây thành đệ nhất thắng cảnh, nên ông rất khắt khe trong việc xây cất các công trình ở chốn bồng lai này. “Ở đây, chặt một cái cây, đặt một viên gạch cũng phải nghĩ các ông ạ! Không tính toán kỹ, làm mất mĩ quan, mình sẽ là người có tội!”. Bởi tâm niệm ấy, nên để có thiên đường với những ngôi nhà đẹp như trong mơ này, ông đã phải kiến thiết suốt 3 năm trời. Mọi vật liệu xây dựng, kể cả nước để hoà vữa cũng đều phải “cõng” từ đất liền ra, tốn kém vô cùng. Khi cơ ngơi cơ bản hoàn tất, ông Tờ nhẩm tính, ông đã “ném” vào hòn đảo này hơn 80 tỉ đồng.


Điểm nuôi tu hài của ông Đỗ Tờ


Cùng với việc “tân trang” hoang đảo, ông Tờ bắt tay ngay vào việc chính của mình, nuôi tu hài. Khi ấy, ở nước ta, chưa nơi nào nhân giống thành công loài nhuyễn thể vừa quen vừa lạ này. Bởi thế, lứa đầu tiên, ông vác nửa tỉ lặn lội sang Trung Quốc mua giống. Làm theo những điều sách dậy, thế nhưng, không hiểu thế nào, cái giống khó nuôi ấy cứ kéo nhau lăn đùng ra chết. Chỉ một thời gian ngắn, kiểm tra các giỏ, những “thiên thần nhỏ” của ông chỉ còn mỗi… vỏ. Buồn nhưng không nản chí bởi ông biết, cách nuôi mà các sách khoa học dạy chỉ là phương pháp chung. Điều kiện môi trường mỗi nơi mỗi khác, phải có sự điều chỉnh hợp lý. Tạm dừng việc nuôi cấy tiếp, ông vòng sang Cát Bà khảo sát bởi có tin, ở đó có mấy hộ đang nuôi tu hài từ những con giống săn bắt tự nhiên ngoài biển. Sang tới nơi, quả đúng như tin đồn. Sau mấy ngày “bái sư”, học hỏi kỹ thuật, cẩn thận hơn, ông mua cả giống của họ về nuôi thử.

Ông Tờ kể, đem số giống ấy về, điều chỉnh một vài chi tiết ở giỏ nuôi, ông phát hiện tu hài là loài vật nuôi vô cùng… dễ tính. Giống chuẩn, thả đúng kỹ thuật thì cứ “ngồi mát mà ăn bát vàng”. May mắn lại tiếp tục mỉm cười, cũng thời gian ấy, một kỹ sư của Hợp phần Su-ma đã thành công trong việc nhân giống hằng loạt loài sinh vật đắt đỏ này. “Phải kéo người kỹ sư tài ba ấy về với mình”. Sau một thời gian “thuyết khách”, ông đã có được “chiến tướng” cừ khôi ấy.

Thiên thời, địa lợi, nhân hoà khi ấy, chẳng điều gì có thể cản bước ông trên đường đi tới thành công. Từ khi chủ động được giống tới nay (2007), trung bình mỗi năm ông thu lãi hằng chục tỉ đồng. Năm nay, quẳng xuống biển chừng 50 tỉ, đến thời điểm này, hạch toán, ông biết mình đã thu lãi đến trên 20 tỉ đồng.


Một con số vô cùng ấn tượng.

Tới thời điểm này, trong giới nuôi tu hài ở Việt Nam, “ngôi vua” xứng đáng thuộc về ông. “Bước lên ngôi báu”, thênh thang một mình một… cõi, nhưng ông không quên trách nhiệm lớn lao của mình. Ngay sau khi thành công, thu lãi lớn, ông đã vận động người dân ở những xã đảo gần đó chuyển sang nuôi loài sinh vật cho bộn tiền này. Làm việc thiện cũng chẳng dễ, có nhiều hộ, ông cùng chính quyền địa phương phải ra sức vận động thì họ mới… miễn cưỡng làm theo. Thậm chí, có những hộ ông đã phải mạnh mồm đánh cược: “Cứ nuôi đi, nếu tu hài chết thì một con giống đổi một con ở tuổi “xuất chuồng”. Cứ sang lồng nuôi của tôi mà bắt!”. Nhờ sự vận động, đầu tư giống, kỹ thuật của ông, đến giờ, tu hài đã là vật nuôi chủ lực của rất nhiều địa phương ở huyện đảo Vân Đồn. Nhiều gia đình đã đổi đời khi đến với loài nhuyễn thể đặc sản này.

Bây giờ, là tỉ phú, nhưng chẳng mấy khi ông Tờ đặt chân vào đất liền. Quanh năm suốt tháng ông khép mình ngoài đảo. Ông bảo, ở đó quen rồi, vào đất liền không được làm việc, lại thấy lạ lẫm, ngứa ngáy chân tay làm sao ấy! Nông dân thường thế, dù ngồi lên đống vàng nhưng bản tính siêng năng không cho phép người ta ngơi nghỉ.

Nước mặn xâm thực: Hàng vạn ha lúa Hà Tĩnh nguy cơ mất trắng!

Những ngày gần đây các chuyên gia thuỷ lợi ở Hà Tĩnh đang đau đầu về nạn nước mặn xâm thực. Với nồng độ mặn cao hơn gấp nhiều lần so với mức độ cho phép, hơn chục nghìn ha lúa đông xuân ở Hà Tĩnh đang đứng trước nguy mất mùa.

Kiểm tra, đo độ mặn ở cống Trung Lương

Đang giữa tiết giao mùa nhưng ở Hà Tĩnh đã liên tục xuất hiện nhiều đợt nắng nóng kéo dài gay gắt đột ngột. Mực nước ở các hồ đập, sông suối cạn dần. Đặc thù ở Hà Tĩnh có sông Ngàn Trươi, Ngàn Sâu, Ngàn Phố, cả 3 con sông chính này đều từ thượng nguồn đổ về sông La, cùng với sông Cả nhập thành sông Lam cung cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của nhiều huyện, thị trong tỉnh. Thế nhưng, năm nay, tuy đang là mùa xuân nhưng nhiều đoạn sông của các con sông chính này đã cạn nhiều so với các năm trước, là điều kiện thuận lợi cho nước mặn từ biển tấn công vào ruộng đồng.

Cống Trung Lương - cửa ngăn mặn giữ ngọt. Khi mở cống Trung Lương, nước ngọt từ sông Lam tràn vào dâng đầy hệ thống sông Nghèn để cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt cho thị xã Hồng Lĩnh và các huyện Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà… Bao đời nay vẫn thế, dòng nước ngọt từ sông Lam như mạch nguồn sữa mẹ nuôi sống quê nghèo Hà Tĩnh. Trong lịch sử, cuối thập niên của thế kỷ 20, nước mặn 1 lần xâm thực "ghé thăm" cống Trung Lương vào ngày 5-5-1994; sang thế kỷ 21 nước mặn xâm thực trở lại Trung Lương bắt đầu từ ngày 27-4-2005 kéo dài gần tháng trời. Bẵng đi một thời gian khá dài, nước mặn vắng mặt, đột nhiên vào đầu tháng 3-2010 nồng độ nước sông Lam đo được tại cống Trung Lương là 7,18%o (bảy phẩy mười tám phần nghìn). Nồng độ trên ở ngay ngày đầu tháng 3, thực sự đưa đến một cú sốc lớn làm hốt hoảng những người làm công tác thuỷ lợi tỉnh này.

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Tĩnh Trần Quốc Hùng, người trực tiếp nắm bắt thông tin và chỉ đạo nguồn nước thuỷ lợi ở tỉnh này vội vã thông báo với chúng tôi về sự cố nước mặn xâm thực cống Trung Lương. Ngay sau khi nhận được thống tin, nhóm PV NNVN đã có mặt kịp thời tại cống Trung Lương - nơi Ban giám đốc cùng các kỹ sư và nhân viên đang liên tục thay nhau kiểm tra nồng độ mặn lấy từ đáy sông lên nơi cửa cống. Giám đốc Cty thuỷ nông Linh Cảm Phan Thuyết, nói: “Việc nước mặn “thăm lại” cống Trung Lương là việc hiếm thấy nhưng trong lịch sử cũng đã hai đợt xảy ra khá nặng.

Nhưng kể từ năm 2005 lại nay, năm nào nước mặn cũng xuất hiện mỗi năm vài ba lần nhưng chỉ ở mức 1-1,2%o (dưới mức độ cho phép) và xuất hiện bắt đầu vào tháng 6. Vì thế, năm nào chúng tôi cũng đo nước nhưng phải đến giữa tháng 5 mới đo. May thay, từ kinh nghiệm 32 năm công tác trong nơi này, năm nay tôi cảm nhận được rằng, nước mặn sẽ về sớm, nên tôi cho anh em đo ngay từ 25-2; và quả thật, đến mồng 1-3 thì nước mặn đã “mò” lên. Và, thật lạ là, nước mặn vừa xuất hiện sớm, lại vừa có nồng độ cao.

Từ ngày xuất hiện đến nay, độ mặn trung bình ngoài cống ngày nào cũng lên đến 3-4%o (mức độ cho phép là dưới 1,2%o). Đặc biệt, thậm chí, vào 4 giờ sáng ngày 25/3, nồng độ đo được lên đến 7,18%o! Từ hôm đó đến nay, anh em chúng tôi phải thay nhau trực 24/24 để đo nồng độ và chớp thời cơ mở cống “bòn” lấy những giọt nước ngọt quý giá. Khi con nước lên, chúng tôi mở cống lấy nước và liên tục đo nồng độ; khi nồng độ nhích lên gần ngưỡng 1,2%o là anh em kịp thời đóng cống, đề phòng nước mặn theo vào”. Ông Thuyết bảo rằng, may mà phán đoán được nước mặn về sớm để tổ chức đo sớm, chứ cứ để đến khoảng tháng 6 mới đo như các năm trước thì đến nay, hậu quả khôn lường đã xảy ra và hàng ngàn ha lúa có thể đã chết trắng đồng.

Các kỹ sư thuỷ lợi ở đây cho biết, vụ đông xuân này, với 190 trạm bơm, Cty cung cấp nước tưới cho trên 10 nghìn ha lúa khoảng 120 triệu m3 nước. Với sự xuất hiện sớm và nồng độ mặn như thế, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến diện tích lúa và nước sinh hoạt trong vùng. Thiếu nước từ cống Trung Lương, có thể lấy nước bổ sung từ cống Đức Xá, bơm từ trạm bơm Linh Cảm xuống sông Nghèn để “chữa cháy” nhưng năng lực của trạm bơm này có hạn, không thể bù đắp được lượng nước thiếu hụt từ cống Trung Lương.

Mặt khác, nếu sử dụng đến phương án này, mỗi ngày phải tốn mất gần 30 triệu tiền điện (mà phải bơm liên tục hàng tháng trời). Các kỹ sư thuỷ lợi của Cty lo ngại rằng, nước nhiễm mặn sẽ càng mặn hơn khi thời tiết đang dần đi vào mùa nắng nóng. Bên cạnh đó, lúa đông xuân đang chuẩn bị vào kỳ trổ đòng, nên thiếu nước sẽ gây ảnh hưởng lớn đến năng suất. Đặc biệt, mặn xâm thực còn ảnh hưởng lớn đến nước tưới cho làm đất, bắc mạ, gieo cấy… vụ hè thu tới

DN cá tra Việt Nam đầu tiên đạt chứng nhận Global G.A.P

Theo tin từ Hiệp hội sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tại vùng nuôi 30ha (phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, An Giang), Công ty cổ phần NTACO (NTACO Corp) đã tổ chức Lễ đón nhận Chứng nhận Global G.A.P (thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu).
Đây là doanh nghiệp thủy sản thứ hai (sau Công ty cổ phần thủy hải sản Minh Phú) và là doanh nghiệp cá tra đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận này.


Đây là doanh nghiệp thủy sản thứ hai (sau Công ty cổ phần thủy hải sản Minh Phú) và là doanh nghiệp cá tra đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận này. Chứng nhận Global G.A.P do Tập đoàn Control Union Certificates (Hà Lan) cấp ngay tại vùng nuôi. Đạt được tiêu chuẩn khắt khe này, giá trị cá thương phẩm của công ty sẽ tăng trên 15%, đồng thời mở rộng cánh cửa cho NTACO Corp thâm nhập vào nhiều thị trường khó tính. Như vậy, ngoài vùng nuôi cá tra sinh thái do Tập đoàn IMO (Institule for Marketelogy) thuộc hệ thống Natureland (Thụy Sỹ) cấp, nhà máy chế biến cá tra sinh thái duy nhất tại Việt Nam, nhà máy thức ăn thủy sản đạt tiêu chuẩn làm thức ăn sinh thái, nhà máy dầu cá, bột cá, nhà máy bao bì, thùng carton, PE, PP, vùng nuôi 30ha đạt tiêu chuẩn Global G.A.P sẽ làm tăng giá trị lợi nhuận năm 2010 của công ty. Trong quý 1 tổng kim ngạch xuất khẩu của NTACO Corp đạt 3,7 triệu USD, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện nay, sản phẩm cá tra, basa của công ty đã có mặt tại hơn 40 quốc gia trên toàn thế giới./.

Phải thu hoạch “tôm non”, dân Trà Vinh lỗ nặng

Môi trường nước ở vùng nuôi tôm đang có dấu hiệu bị ô nhiễm, người nuôi thả giống vào thời điểm không thích hợp.

Mặc dù chưa đến kỳ thu hoạch, nhưng hiện nay có một số hộ nuôi tôm sú ở vùng ngập mặn ven biển tỉnh Trà Vinh - chủ yếu ở huyện Duyên Hải, buộc phải thu hoạch sớm cả trăm tấn tôm nuôi.

Do thu hoạch sớm hơn từ 2-2,5 tháng, tôm không đủ chuẩn xuất khẩu, chỉ tiêu thụ nội địa nên chỉ bán được từ 35.000-40.000 đồng/kg. Với giá này chỉ bằng khoảng 20- 25% giá tôm nguyên liệu các nhà máy chế biến mua hiện nay nên các hộ nuôi tôm thu hoạch sớm bị lỗ.

Tệ hơn, ngoài số hộ buộc phải thu họach “tôm non” ở vùng ngập mặn ven biển tỉnh Trà Vinh còn khoảng 140 triệu con tôm giống của gần 2.000 hộ thả nuôi từ 30-45 ngày tuổi bị mất trắng, gây thiệt hại nặng cho người nuôi.

Theo các nhà chuyên môn, nguyên nhân người nuôi tôm buộc phải thu họach sớm và tôm nuôi bị chết là do thời tiết năm nay quá khắc nghiệt, hạn hán, nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích nuôi tôm bị cạn nước, tôm nuôi bị “sốc nhiệt” dẫn đến chết.

Ngoài ra, môi trường nước ở vùng nuôi tôm đang có dấu hiệu bị ô nhiễm, người nuôi thả giống vào thời điểm không thích hợp.

Nhằm hạn chế thiệt hại, ngành nông nghiệp tỉnh Trà Vinh đã tăng cường cán bộ kỹ thuật xuống bám cơ sở phối hợp với các ngành, các cấp ở địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức việc chấp hành các quy định của chính quyền và ngành chuyên môn trong việc nuôi tôm - nhất là khâu xử lý nước thải.

Ở vùng ngập mặn ven biển thuộc 4 huyện Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú và Châu Thành (Trà Vinh) hiện có gần 15.000 hộ, thả nuôi khoảng 1 tỷ con tôm sú giống trên diện tích gần 15.000ha mặt nước./.

Festival Thủy sản 2010: Ngày hội lớn của ngành Thủy sản

Hằng năm, ngành thủy sản Việt Nam đem lại kim ngạch xuất khẩu cho đất nước hàng tỉ USD, trong đó có con cá tra và ba sa ở ĐBSCL. Trong tương lai, thủy sản sẽ tiếp tục là một trong những ngành thế mạnh của Việt Nam, góp phần thu nhiều ngoại tệ về cho đất nước.

Mọi thứ đã sẵn sàng

Được sự chấp thuận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Festival Thủy sản Việt Nam (lần I) năm 2010 tại TP Cần Thơ sẽ diễn ra từ ngày 24 đến 27/4/2010. UBND TP Cần Thơ đã thành lập Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức và các tiểu ban phục vụ cho lễ hội. Công tác chuẩn bị cho Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010 đã và đang được Ban Tổ chức tiến hành khẩn trương.

Được biết, Ban Tổ chức đã làm việc với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bàn kế hoạch và các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức Festival. Đồng thời, làm việc với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ thống nhất thời gian tổ chức Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010. Ban Tổ chức đã xây dựng xong Kế hoạch tổ chức và thiết kế toàn bộ Chương trình của Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010. Hiện đã có hơn 200 gian hàng của các đơn vị, doanh nghiệp đăng ký tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại khu hội chợ thương mại của Festival, trên tổng số dự kiến là 450 - 500 gian hàng. Về kinh phí để tổ chức lễ hội, được thực hiện bằng xã hội hóa và hiện đã vận động các nhà tài trợ và doanh nghiệp tham gia Festival đóng góp.

Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010 sẽ là ngày hội của nông dân, ngư dân, nhà khoa học, nhà quản lý và các doanh nhân, doanh nghiệp ngành thủy sản Việt Nam. Đây là một sự kiện lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm tôn vinh những giá trị của ngành thủy sản Việt Nam và các cá nhân, doanh nghiệp đã có những đóng cho sự phát triển của ngành. Khẳng định vai trò, thế mạnh, tiềm năng của thủy sản Việt Nam trong nuôi trồng và đánh bắt để có các chiến lược phát triển lâu dài, tạo ra cơ hội hợp tác, giao thương giữa các doanh nghiệp thủy sản và các đối tác trong và ngoài nước và hướng tới xây dựng thương hiệu cho thủy sản Việt Nam có một vị trí xứng đáng trên thị trường quốc tế. Mặt khác, Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010 cũng là thông điệp gửi đến các tỉnh, thành trong nước và bạn bè trên thế giới về một TP Cần Thơ giàu tiềm năng, năng động, xinh đẹp, với văn hóa sông nước miệt vườn đặc sắc, là địa điểm du lịch hấp dẫn.

TP Cần Thơ là thành phố trung tâm của vùng ĐBSCL nên việc thành phố đăng cai tổ chức Festival sẽ có các thuận lợi về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị. Đây sẽ là một cơ hội tốt để quảng bá hình ảnh vùng đồng bằng sông nước.



Chế biến cá tra xuất khẩu Ảnh: Lê Hoàng Vũ



Nhiều hoạt động đặc sắc

Ban Tổ chức Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010 đang đẩy mạnh thực hiện các công tác tuyên truyền, treo các băng rôn, khẩu hiệu tại TP Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL nhằm quảng bá Festival đến công chúng; Khẩn trương đưa Trung tâm báo chí phục vụ Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010 vào hoạt động; Đẩy mạnh các công tác vận động, kêu gọi các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản và các đối tác nước ngoài tham gia Festival; Tuyển chọn, tập huấn và điều phối lực lượng tình nguyện viên (tối thiểu 100 người) phục vụ trong suốt thời gian diễn ra Festival...

Trong những ngày diễn ra Festival sẽ có một loạt các chương trình, hoạt động nhằm làm nổi bật chủ đề của Festival Thủy sản Việt Nam năm 2010 là: “Thủy sản Việt Nam: Tiềm năng, phát triển và hội nhập”. Đó là các chương trình hội thảo, chương trình hội chợ thủy sản và xúc tiến thương mại, bình chọn và trao giải thưởng nhằm tôn vinh các cá nhân, doanh nghiệp có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có các chương trình biểu diễn nghệ thuật và nhiều hoạt động hỗ trợ như: liên hoan văn hóa ẩm thực thủy sản ĐBSCL, và các hoạt động vui chơi giải trí, trò chơi dân gian...

Khu vực trung tâm của lễ hội sẽ diễn ra trên tuyến đường liên thông giữa đường Lê Lợi và đường Trần Văn Khéo nối với Công viên Sông Hậu. Nơi đây sẽ diễn ra các hoạt động trọng điểm như: chương trình trực quan giới thiệu các hình ảnh về ngành thủy sản Việt Nam, diễu hành xe hoa, lễ khai mạc; lễ bế mạc sẽ được tổ chức ở khu vực trung tâm khu Công viên Sông Hậu và Sân vận động Cần Thơ. Còn khu ẩm thực được tổ chức tại khuôn viên nhà hàng Hoa Sứ. Nơi đây sẽ diễn ra chương trình ngày hội ẩm thực thủy sản, các cuộc thi về ẩm thực, kỷ lục guinness ẩm thực thủy sản... Song song đó, Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc tế Cần Thơ được chọn làm khu diễn ra hội thảo, hội chợ - xúc tiến thương mại thủy sản và các hoạt động hỗ trợ khác. Tại đây sẽ trưng bày, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ của các cá nhân, đơn vị, tập đoàn và doanh nghiệp trong ngành thủy sản và các sản phẩm phụ trợ cho ngành thủy sản. Đồng thời, diễn ra các hoạt động giao thương, xúc tiến thương mại, ký kết các hợp đồng mua bán, hợp tác đầu tư giữa các đối tác. Riêng chương trình hội thảo diễn ra tại Festival sẽ tập trung vào các chủ đề chính về việc nâng cao giá trị, chất lượng thủy sản, nâng cao thương hiệu và vị thế cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới; đồng thời đề xuất các vấn đề pháp lý, các giải pháp đối với ngành thủy sản về những vấn đề khó khăn, vướng mắc nhằm giúp ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững.

Tiềm năng đầu tư vào ngành thủy sản Philippine

Philippine là một quốc gia biển. Với diện tích lãnh thổ 2.200.00 km2 trong đó diện tích ven biển là 266.000 km2, thềm lục địa (độ sâu 200m) 184.600 km2, cùng 246.063 km2 đầm lầy và 253.854 ha ao hồ… đây là quốc gia có tiềm năng kinh tế biển rất lớn.

Quê hương rong biển

Philippine hiện là nước đứng thứ 8 trong số các quốc gia sản xuất cá trên thế giới. Liên tục từ năm 1999-2008 ngành thủy sản của Philippine đạt tỷ lệ tăng trưởng 4,33% về khối lượng và 5,84% về giá trị. Trong 5 năm qua, sản lượng cá đã tăng ở mức 18,47 % và đạt 5.085.976,95 tấn trong năm 2009.

Các loại sản phẩm được nuôi trồng chủ yếu là rong biển, cá măng sữa, cá diêu hồng, tôm, cua, cá chép, cá basa, sò huyết, trai. Sản phẩm nổi bật nhất của Philippine chính là rong biển.

Với sản lượng 1,66 triệu tấn hàng năm, rong biển của nước này chiếm 69,21% sản lượng của ngành và chiếm 10,1 % sản lượng toàn cầu. Rong biển được tiêu thụ trong các núi nhỏ tinh sơ chế chiếm 58%, sây thô chiếm 31%.

Có mặt tại cuộc triển lãm Index Việt Nam 2010 tại TPHCM, bà L.Palma, Giám đốc trung tâm nông nghiệp Adelaida của Philippine cho biết: “Phát triển rong biển, đầu tư không tốn kém lắm, nhưng lại đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó Philippine cũng bắt đầu mở mang thêm nhiều sản phẩm khác để tham gia vào thị trường thủy sản toàn cầu”.

Nỗ lực đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu

Những năm gần đây, chính phủ Philippine nỗ lực phát triển các mặt hàng thủy sản. Sản lượng cá măng sữa của Philippine đã đạt hơn 350,8 ngàn tấn, chiếm 14,57% tổng sản lượng ngành thủy sản. Cá diêu hồng đạt hơn 257 ngàn tấn, đạt 10,68 % tổng sản lượng. Tôm đạt gần 48,2 ngàn tấn bằng 2% tổng sản lượng. Trai đạt 23 ngàn tấn (0,96% tổng sản lượng), cá chép 20,7 ngàn tấn ( chiếm 0,86% sản lượng). Cá basa đạt 2,7 ngàn tấn (bằng 0,11 % tổng sản lượng).

Tuy nhiên, ngành thủy sản Philippine cũng gặp không ít vấn đề. Điển hình là vấn đề nuôi tôm.

Những năm 1960 tôm chủ yếu được đánh bắt đại trà trong tự nhiên. Sau đó, những năm 1980 tôm được xem là một ngành nuôi trồng mang tính công nghiệp và chiếm vị trí quan trọng. Việc nuôi tôm đại trà đã đưa đến hiện tượng chuyển đất nông nghiệp sang nuôi tôm, đặc biệt là ở miền Tây Visayas. Tôm Philippine đã phát triển đến đỉnh cao vào năm 1992 với thị trường Nhật Bản hấp thụ 80% sản phẩm xuất khẩu của Philippine.

Tuy nhiên, những năm sau đó, ngành công nghiệp này đã nhanh chóng sụp đổ do tôm nhiễm các bệnh như vibriosis, nhiễm khuẩn Luminous và hội chứng đốm trắng. Bên cạnh đố, chí phí sản xuất quá cao cũng khiến cho sản lượng tôm sụt giảm liên tục.

Từ năm 2004-2008, chính phủ Philippine là làm nhiều cách để vực dậy ngành thủy sản này. Điển hình là mở trung tâm Oplan Sagip Suppo chẩn đoán các bệnh về tôm. Ngoài ra, chính phủ cũng tổ chức kiểm định việc nuôi tôm thân thiện với môi trường, xây dựng việc nôi tôm bền vững… Nhờ có việc can thiệp bằng khoa học và quản lý, từ năm 2004-2008, sản lượng tăng trưởng hàng năm đã đạt 4%.

Ngóng Hoàng Sa chờ chồng

Trong những ngày qua, bà Nguyễn Thị Bưởi, vợ ngư dân Tiêu Viết Là ở xã Bình Châu, Bình Sơn, Quảng Ngãi đã bặt tin chồng ở quần đảo Hoàng Sa.

Bà Bưởi với tờ đơn của Trung Quốc


Trong những ngày qua, người dân tại thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn bàng hoàng vì tin chiếc thuyền của ông Tiêu Viết Là bị bắt giữ. Trước đó, lúc 12 giờ trưa ngày 12/3/2010, chiếc thuyền đưa 12 ngư dân đi Hoàng Sa làm ăn. Chiều 25/3, ông Là từ Hoàng Sa gọi điện về nhà thông báo bị Trung Quốc bắt giữ, và nói: phía Trung Quốc đòi phạt 70.000 nhân dân tệ để chuộc người.

Các lực lượng chức năng tại tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành làm hết khả năng có thể: Đó là thăm hỏi, động viên gia đình, yêu cầu bà Bưởi không nên vay mượn tiền mang nộp; đồng thời hoàn tất các biên bản, đơn yêu cầu để làm cơ sở kiến nghị qua Bộ Ngoại giao, yêu cầu thả người vô điều kiện.

Ghánh món nợ trên vai. Trong những ngày qua, hai mẹ con bà Bưởi cuống cuồng đi làm đủ nghề để kiếm sống, kể cả việc lên núi đốn gốc dương liễu bán. Một ngày kiếm 40 ngàn, bà đau khổ: Làm vầy thì cả đời mới kiếm đủ Nhân dân tệ để gởi qua Trung Quốc chuộc chồng. Họ yêu cầu, nhưng gia đình không có tiền để nộp.

Bà nhấc điện thoại bấm vào 2 số mà phía Trung Quốc chuyển cho ông Là để liên hệ nộp tiền, gồm: 0086 13976018105 và 0086 13976688406. Tuy nhiên, phía đầu dây bên kia chỉ nghe tiếng xì xồ của Trung Quốc. Trong tổng số 12 ngư dân trên tàu thì có đến 3 cha con ông Là - trụ cột chính của gia đình.

Nhắc chuyện cũ, bà vào nhà lấy tờ biên bản ghi bằng tiếng Trung Quốc có chữ ký của chồng bà. Đó là cơn ác mộng. Tờ biên bản này do phía Trung Quốc lập vào năm 2007, khi 13 ngư dân trên tàu bị Trung Quốc xả súng bắn bị thương 6 người. Sau 2 tháng điều trị cho các ngư dân, Trung Quốc thu giữ tàu, chỉ thả ngư dân về. Trong số đó, có một ngư dân hiện nay lâm cảnh tàn phế do vết đạn phá vỡ cả cánh tay - đó là anh Huỳnh Văn Hưng, hiện trú tại thôn Phước Thiện xã Bình Hải.

Lấy nợ trả nợ. Sau vụ đại nạn, vợ chồng ông Là quyết định đút sổ đỏ vào ngân hàng, thế chấp luôn ngôi nhà để vay 100 triệu đồng. Bốc nóng bốc nguội với lãi suất 20%. Chòm xóm cho mượn thêm 4 sổ đỏ để vay thêm 40 triệu đồng. Chủ nậu cho vay thêm 100 triệu đồng. Trước tình cảnh trên, những người cho mượn tiền đã không làm khó đối với gia đình bà.

Chiếc tàu cá mới mua trị giá 300 triệu đồng của ông Phạm Tấn Quang ở thôn An Hải, xã Bình Châu. Mua về, chưa làm thủ tục sang tên, đăng kiểm và mua bảo hiểm, ông Là để nguyên tên cũ đi làm. Nhưng ngay phiên đầu tiên đã bị Trung Quốc bắt giữ. “Bây chúng tôi chỉ biết kêu cứu các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp nhờ quan tâm giúp đỡ”, giọng bà Bưởi khẩn cầu.

LÊ VĂN CHƯƠNG

Ngày 8/4/2010, Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam đã có văn bản số 61/HNC gửi:

Văn phòng Chính phu, Bộ Ngoại giao, Bộ NN&PTNT,Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam về việc đề nghị giúp đỡ ngư dân Quảng Ngãi bị phía Trung Quốc bắt người, tịch thu tài sản.

Theo báo cáo của Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi, ngày 22/3/2010, tàu cá QNg-0362-TS do ông Tiêu Viết La làm thuyền trưởng và 11 thuyền viên đang đánh cá tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa thì bị phía Trung Quốc bắt giữ và đòi phạt tiền 70.000 nhân dân tệ.

Hội Nghề cá Việt Nam kính đề nghị các Chính phủ và các ngành chức năng sớm thông qua con đường ngoại giao can thiệp với phía Trung Quốc chấm dứt ngay những việc làm sai trái trên, không lặp lại những hành động tương tự và bồi thường thiệt hại cho ngư dân.

Trước đó, ngày 7.4.2010, Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam đã có văn bản số 60/HNC gửi Đại sứ Quán nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Hà Nội, về việc phản đối phía Trung Quốc bắt người, tịch thu tài sản, đòi phạt tiền ngư dân. Công văn có đoạn: Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ngư dân Việt Nam có quyền khai thác hải sản trên vùng biển đó. Việc ngăn cản, bắt giữ người, tịch thu tài sản, đòi nộp phạt tiền là việc làm sai trái, không tuân thủ quy định quốc tế về chủ quyền lãnh hải. Hội Nghề cá Việt Nam kịch liệt phản đối những việc làm trên. Yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay và không lặp lại các hành động tương tự, thả vô điều kiện người và tàu cá của ngư dân Việt Nam, đồng thời phải bồi thường những thiệt hại mà phía Trung Quốc đã gây ra.

Qui định mới về khai thác thủy sản

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 33/2010/NĐ-CP về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân trên các vùng biển. Ông Phạm Ngọc Tuấn, Phó phòng Quản lý khai thác, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (KT&BVNLTS), Bộ NN&PTNT đã có cuộc trao đổi với TSVN xung quanh nội dung của Nghị định này. Ông Tuấn cho biết:

Khác với Nghị định 123/2006/NĐ-CP, Nghị định mới quy định, vùng biển Việt Nam được phân thành 3 vùng khai thác thủy sản theo thứ tự: Vùng biển ven bờ, vùng lộng và vùng khơi. Nghị định quy định cụ thể vùng được phép khai thác thủy sản đối với từng loại tàu cá: tàu lắp máy có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùng biển cả, không được khai thác tại vùng biển ven bờ và vùng lộng; tàu từ 20 - 90CV khai thác tại vùng lộng và vùng khơi; còn tàu dưới 20CV hoặc tàu không lắp máy khai thác tại vùng biển ven bờ, không được khai thác tại vùng lộng, vùng khơi và vùng biển cả.

Tàu cá khai thác thủy sản dưới 20CV hoặc tàu không lắp máy đăng ký tại tỉnh nào thì chỉ được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ của tỉnh đó; trừ trường hợp UBND của 2 tỉnh có biển liền kề có thỏa thuận riêng về việc cho phép tàu cá tỉnh bạn vào khai thác thủy sản trong vùng biển ven bờ của tỉnh mình. Tàu cá hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi phải được đánh dấu để nhận biết.

Vậy, đối với các tàu cá hoặc nhóm tàu cá khai thác ngoài vùng biển Việt Nam thì sao ?

Tàu cá hoặc nhóm tàu cá đi hoạt động khai thác thủy sản tại vùng biển các nước, vùng lãnh thổ khác phải có Hiệp định hợp tác khai thác thủy sản giữa Việt Nam với quốc gia, vùng lãnh thổ có biển hoặc có hợp đồng hợp tác khai thác thủy sản giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với tổ chức, cá nhân của quốc gia, vùng lãnh thổ có biển, được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh thổ có biển chấp thuận. Đồng thời, trên tàu hoặc cùng 1 nhóm tàu phải có ít nhất 1 người biết thông thạo tiếng Anh hoặc ngôn ngữ thông dụng của quốc gia, vùng lãnh thổ mà tàu đến khai thác. Thuyền viên trên tàu phải có hộ chiếu phổ thông.

Nghị định có hiệu lực thi hành ở thời điểm nào, thưa ông?

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15.6.2010 và thay thế Nghị định số 123/2006/NĐ-CP ngày 27.10.2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức cá nhân Việt Nam trên các vùng biển.

Nghị định mới ra đời sẽ tác động như thế nào đối với hoạt động khai thác của ngư dân?

Như tên của Nghị định là quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển. Cho nên, khi Nghị định có hiệu lực các tàu khai thác thủy sản, tùy theo công suất của máy tàu mà chỉ được phép hoạt động ở những vùng biển nhất định. Khi ngư dân hoạt động khai thác thủy sản tại tuyến lộng và tuyến khơi phải đánh dấu tàu theo qui định để phục vụ việc kiểm tra giám sát hoạt động tàu hoạt động tại các vùng biển này. Việc đánh dấu tàu cá, bước đầu, chắc chắn sẽ không có được sự đồng thuận của tất cả các chủ tàu, nhưng đây là một giải pháp quan trọng để giám sát hoạt động của tàu thuyền theo các vùng biển qui định. Ngoài ra, khi tàu cá hoạt động tại vùng biển cả, vùng biển của các nước và vùng lãnh thổ khác cũng chịu sự điều chỉnh của Nghị định này.

Đối với công tác quản lý hoạt động khai thác?

Nghị định mới là một công cụ pháp lý quan trọng trong quản lý hoạt động khai thác thủy sản, giúp cho các cơ quan chức năng quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tàu cá Việt Nam, không chỉ trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà cả ở vùng biển cả và vùng biển thuộc các nước và vùng lãnh thổ khác khi tàu cá Việt Nam đi khai thác hợp pháp tại các vùng biển này. Nghi định mới ban hành lần này cũng nhằm phân chia hợp lý năng lực khai thác trên các vùng biển, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác thủy sản, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, giảm xung đột cạnh tranh ngư trường giữa tàu lớn và tàu nhỏ.

Việc phân vùng khai thác theo nguyên tắc tàu lớn mới được ra khơi sẽ góp phần vào việc đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động trên biển.

Cục KT&BVNLTS đã triển khai những việc gì để thực hiện những quy định mới này, thưa ông?

Khi Nghị định mới có hiệu lực thì trách nhiệm của các bộ, ngành và UBND các cấp đã được qui định cụ thể trong Nghị định. Tuy nhiên, với vai trò là cơ quan chuyên môn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục KT&BVNLTS cũng đã có kế hoạch phối hợp với các địa phương tuyên truyền, phổ biến và triển khai Nghị định mới này. Thứ nhất, Cục sẽ là tham mưu cho Bộ sớm ban hành Thông tư hướng dẫn những điểm qui định phải cần hướng dẫn, ví dụ như hướng dẫn việc đánh dấu tàu cá hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi. Thứ hai, ngay trong tháng 5 này, Cục sẽ tổ chức hai Hội nghị phổ biến triển khai thực hiện Nghi định cho các Chi cục khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản của các tỉnh, thành phố ven biển, cho bà con ngư dân tại miền Bắc và miền Nam.

Xin cảm ơn ông!


>> Chính phủ cũng vừa ban hành Nghị định mới về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Trong đó quy định mức phạt lên tới 40 triệu đồng đối với hành vi nhập khẩu tàu cá khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu. Mức phạt cao nhất đối với hành vi sử dụng giấy phép khai thác thủy sản được làm giả, bị tẩy xóa, sửa chữa lên tới 15 triệu đồng. Mức phạt từ 10 triệu đến 20 triệu đồng đối với hành vi sử dụng chất nổ để khai thác thủy sản.